Chính sách đối với đội ngũ y, bác sĩ chưa thỏa đáng

(BLC) - Đó là một trong những ý kiến phát biểu của đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu Pờ Hồng Vân trong phiên thảo luận tại hội trường của Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế (BHYT) giai đoạn 2009 – 2012 do đồng chí Tòng Thị Phóng, Phó Chủ tịch Quốc hội điều hành.

>>Tăng bố trí ngân sách nhà nước đối với các tỉnh nghèo từ các nguồn trái phiếu Chính phủ và các khoản bổ sung có mục tiêu năm 2014

Đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu Pờ Hồng Vân khẳng định, BHYT là một chính sách xã hội mang ý nghĩa nhân đạo, có tính chia sẻ cộng đồng được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng. Từ khi triển khai thực hiện, diện phủ BHYT ngày càng được mở rộng; người dân được chăm sóc sức khỏe bằng các dịch vụ y tế ngày càng tốt hơn. Đặc biệt, người dân các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tham gia BHYT từ nguồn NSNN, được tiếp cận với các dịch vụ ytế ngay từ tuyến y tế cơ sở. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện chính sách pháp luật về BHYT còn nhiều hạn chế, bất cập.

Đại biểu quốc hội tỉnh Lai Châu Pờ Hồng Vân tham gia thảo luận tại Hội trường.

Một là, về phân cấp quản lý Quỹ BHYT cho các tỉnh, thành phố chưa rõ ràng. Theo Điều 34 Luật BHYT thì Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch và có sự phân cấp quản lý trong hệ thống tổ chức BHYT, theo đó 90% số thu BHYT để lại BHXH tỉnh để quản lý. Nhưng trong thực tế Quỹ BHYT đang được quản lý tập trung tại BHXH Việt Nam, các địa phương chưa thực sự chủ động trong quản lý Quỹ nên chưa quan tâm nhiều đến trách nhiệm của mình đối với việc mở rộng đối tượng, tăng nguồn thu cho quỹ BHYT.

Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 35 Luật BHYT, các địa phương có kết dư Quỹ BHYT sẽ được sử dụng 60% để phục vụ khám, chữa bệnh BHYT tại địa phương, nhưng từ khi Luật BHYT có hiệu lực đến nay, toàn bộ số kết dư Quỹ BHYT chưa phân bổ cho các địa phương mà được sử dụng để tập trung bổ sung quỹ dự phòng khám bệnh, chữa bệnh BHYT. Thực tế cho thấy, các tỉnh miền núi có số kết dư Quỹ cao. Nguyên nhân là do tỷ lệ che phủ BHYT cao, dân cư phân tán, giao thông đi lại khó khăn, xa cơ sở y tế, một bộ phận người dân có tập quán tự chữa bệnh bằng lá thuốc nên ít tiếp cận với dịch vụ y tế. Mặt khác, mức đóng BHYT của người dân là như nhau, không phân biệt vùng miền, nhưng mức hưởng lại khác nhau. Ở các thành phố lớn có trang thiết bị hiện đại nên giá dịch vụ y tế cao hơn. Nhưng cũng với mức đóng ấy người dân miền núi chỉ được khám, chữa bệnh bằng phương tiện kỹ thuật, dịch vụ, chất lượng y bác sỹ thấp hơn rất nhiều. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến kết dư quỹ BHYT ở các tỉnh này. Trong khi đó, các tỉnh, thành phố lớn thì hầu như không có hoặc kết dư rất ít, một số tỉnh bội chi Quỹ BHYT và thường xuyên nhận sự hỗ trợ từ Quỹ Dự phòng trung ương. Điều này cho thấy sự không hợp lý của việc điều tiết kết dư của các tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn để trợ cấp cho việc thâm hụt quỹ của các tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển. Do đó, cần phân cấp việc quản lý quỹ BHYT cho địa phương mạnh mẽ hơn; quy định cụ thể tỷ lệ giữ lại tại địa phương trong trường hợp kết dư quỹ BHYT và đảm bảo thực hiện phân bổ đúng, kịp thời. Còn việc sử dụng nguồn kết dư được trích lại vào mục đích phát triển y tế, khám chữa bệnh hay đầu tư phát triển, mua sắm trang thiết bị thì giao cho địa phương tự quyết định phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Hai là, qua giám sát ở các địa phương cho thấy, công tác cấp phát thẻ BHYT còn có tình trạng cấp trùng, cấp sót đối tượng; sai lệch các thông tin ghi trên thẻ đã gây khó khăn cho cơ sở KCB, cho người dân và cho chính cơ quan BHXH trong việc thực hiện KCB, thanh toán KCB bằng thẻ BHYT. Song báo cáo của Chính phủ chưa đề cập đến vấn đề này. Bên cạnh đó, việc sử dụng thẻ BHYT có ảnh có ưu điểm cơ bản là thuận tiện cho người tham gia BHYT; hạn chế tình trạng mượn thẻ, đồng thời cũng thuận lợi cho các cơ sở khám chữa bệnh trong việc kiểm tra đối chiếu, tiếp nhận và quản lý người bệnh. Tuy nhiên, việc thí điểm triển khai thẻ BHYT có ảnh chưa đạt kết quả như mong muốn do chi phí chụp ảnh, xử lý ảnh, dán ảnh lớn và cần tăng nguồn nhân lực để tổ chức thực hiện.

Theo báo cáo của Chính phủ, tổng hai chi phí trên là khoảng 441 tỷ đồng, chi phí trực tiếp chụp ảnh cho khoảng 70 triệu người là 490 tỷ đồng, nhân lực để làm các công tác trên cần bổ sung thêm là khoảng 2.200 người. Đối với các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số do giao thông đi lại khó khăn, các trung tâm xã chưa có điểm chụp ảnh người dân phải đến trung tâm huyện để chụp, chi phí chụp ảnh của một người có thể lên tới cả triệu đồng thì đại bộ phận người dân các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn khó có khả năng chi trả. 

Như vậy, khoản 5, Điều 16 Luật BHYT quy định chậm nhất đến ngày 01/01/2014 phải tổ chức thực hiện việc phát hành thẻ BHYT có ảnh của người tham gia BHYT là khó có thể thực hiện được. Vì vậy, đại biểu đề nghị cần bố trí kinh phí tổ chức chụp ảnh tập trung tại địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và từng bước áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong việc xây dựng trung tâm dữ liệu thẻ; cấp thẻ BHYT điện tử cho người tham gia BHYT trong tương lai.

Ba là, thời gian gần đây các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải nhiều vấn đề nóng liên quan đến đạo đức nghề nghiệp, kỹ thuật chuyên môn của đội ngũ y bác sĩ đã thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân. Nguyên nhân một bộ phận bác sĩ đang đánh mất uy tín của cả ngành y tế, theo đại biểu có nhiều nguyên nhân, trong đó chính sách đối với đội ngũ y bác sĩ chưa thỏa đáng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên. Hiện nay, để có thể hành nghề, bác sỹ phải qua ít nhất 6 năm đào tạo, khi ra trường nhận mức lương tối thiểu là 2.690.000 chỉ đủ trang trải chi phí thuê nhà, điện nước; một bác sĩ trực 24/24h được hưởng mức 65.000 đồng/1 ca trực; Nếu có bệnh nhân cấp cứu, bác sĩ phải mổ bất kể ngày đêm, ngày thường hay các dịp lễ, tết; cán bộ y tế dự phòng đi công tác cơ sở được 13.500 đồng/người/ngày. Ở miền núi, những y bác sĩ phải đi tuyên truyền, thực hiện các chiến dịch phòng, chống dịch bệnh tại các xã, bản cách xa trung tâm huyện, có bản lên đến hàng trăm km, số tiền 13.500 đồng chưa tương xứng với những vất vả của họ.

Theo đại biểu, những nội dung nêu trên là một trong những bất cập của việc thực hiện chính sách pháp luật về BHYT đã và đang tồn tại là thực trạng chung của nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Việc Ủy ban thường vụ Quốc hội tổ chức giám sát kết quả thực hiện chinh sách pháp luật về BHYT giai đoạn 2009 – 2012 là rất kịp thời. Báo cáo giám sát đã đánh giá khách quan, sát với thực tế. Từ đó đưa ra nhiều giải pháp mang tính thực tiễn cao, làm cơ sở để sửa đổi, bổ sung Luật BHYT và các văn bản pháp luật có liên quan. Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo cần bám sát các kiến nghị đề xuất trong báo cáo để nghiên cứu tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật BHYT.

Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng đánh giá cao ý kiến tham gia của đại biểu Pờ Hồng Vân với những vấn đề rất sát với tình hình thực tế của các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu.

Vũ Lương - Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh

Các tin tức khác