Hiệu quả bước đầu từ đề án tái cơ cấu nông nghiệp

Lai Châu là tỉnh có tiềm năng, thế mạnh về phát triển nông nghiệp, đặc biệt là tiềm năng về đất đai, mặt nước và khí hậu. Ngày 30/10/2014, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1406/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Lai Châu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Trong những năm qua, tỉnh đã tích cực thực hiện Đề án này nhằm đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới góp phần phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững quốc phòng-an ninh trên địa bàn tỉnh.

Vùng chè nguyên liệu của huyện Tân Uyên.
 

Theo ông Hà Văn Um, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, việc thực hiện Đề án tái cơ cấu Ngành nông nghiệp tỉnh Lai Châu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 được thực hiện đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, phát triển lâm nghiệp. Việc đầu tiên trong thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, các cấp, các ngành đã tập trung chỉ đạo người dân trên địa bàn toàn tỉnh, đưa các giống lúa, ngô có năng suất chất lượng vào sản xuất. Tỉnh đã phát triển khoảng 820 ha lúa sản xuất theo mô hình cánh đồng tập trung, sử dụng 1-2 giống lúa thuần chất lượng cao, từ đó góp phần đưa tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2016 đã đạt 206.700 tấn, tăng 96.700 tấn so với năm 2004; nâng sản lượng lương thực bình quân đầu người lên 470,6 kg/người/năm tăng 176,2 kg so với năm 2004; an ninh lương thực được đảm bảo và có một phần sản lượng hàng hóa chất lượng cao bán ra ngoài tỉnh.

Bước đầu thử nghiệm và triển khai có hiệu quả một số mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hoá tạo tiền đề để đánh giá và nhân rộng trong giai đoạn tới như: Thử nghiệm trồng 170 ha cây mắc ca tại khu vực huyện Tam Đường; phát triển vùng trồng cây ăn quả ôn đới tại các xã Giang Ma, Hồ Thầu (huyện Tam Đường), vùng cam tập trung tại các xã Bản Giang, Bản Hon (huyện Tam Đường) và Nậm Tăm huyện Sìn Hồ; vùng bơ tại các huyện Tân Uyên, Tam Đường và thành phố Lai Châu; vùng cây ăn quả nhiệt đới (xoài, dừa, vải, nhãn…) tại huyện Nậm Nhùn; phát triển cây sơn tra thông qua việc lồng ghép bố trí trong cơ cấu giống của các dự án trồng rừng. Hiện nay, tổng diện tích cây sơn tra của tỉnh là 1.099,4 ha.

Ngành chè được tái cơ cấu theo hướng gắn nông dân với doanh nghiệp thông qua hợp đồng, hợp tác kinh doanh theo chuỗi giá trị sản phẩm nên đã hạn chế được trình trạng tranh mua, tranh bán. Củng cố và phát triển vùng nguyên liệu chè tập trung gắn với công nghiệp chế biến. Hiện nay, các công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã chế biến chè được phân vùng nguyên liệu và tổ chức ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm chè búp tươi với bà con nông dân được trên 2.400 ha. Chè đã trở thành sản phẩm hàng hóa chủ lực của tỉnh, chất lượng, mẫu mã sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú, nhiều sản phẩm chè của tỉnh đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Đến nay, toàn tỉnh có trên 4.500 ha chè, sản lượng chè búp tươi đạt trên 25.000 tấn/năm. Cùng với chè, cây cao su được tỉnh tích cực chỉ đạo triển khai thực hiện. Đến nay, toàn tỉnh đã trồng được trên 13.200 ha cao su, có 03 Công ty Cao su trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam và trở thành tỉnh có diện tích cao su lớn nhất vùng miền núi phía Bắc.

Phát triển chăn nuôi đã được quan tâm chỉ đạo theo hướng bền vững. Công tác phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm được chủ động thực hiện, nhận thức của người chăn nuôi từng bước được nâng lên, người dân đã quan tâm làm chuồng trại, trồng cỏ, dự trữ thức ăn nên đã hạn chế tình trạng gia súc chết rét trong mùa đông, đặc biệt là ở các xã vùng cao. Tốc độ tăng trưởng đàn gia súc bình quân đạt trên 4%/năm; một số giống lợn lai hướng nạc, lợn ngoại có năng suất, tỷ lệ nạc cao đã được đưa vào nuôi tại các khu vực có điều kiện thuận lợi như Tam Đường, Than Uyên, Thành phố. Đặc biệt, đã có doanh nghiệp đầu tư chăn nuôi lợn thịt theo hướng công nghiệp, với quy mô lớn trên 2.000 con lợn/lứa và nhiều hộ gia đình phát triển chăn nuôi lợn quy mô trên 100 con lợn/năm góp phần quan trọng cung cấp sản phẩm thịt trên địa bàn tỉnh.

Việc nuôi trồng thủy sản được đẩy mạnh thực hiện, đặc biệt là việc nuôi cá nước lạnh tập trung. Hiện nay, toàn tỉnh có 07 cơ sở nuôi cá nước lạnh với thể tích nuôi gần 30.000 m3; đã làm chủ được quy trình kỹ thuật nuôi cá tầm đẻ trứng để sản xuất cá giống phục vụ yêu cầu phát triển nuôi cá nước lạnh và nuôi cá lồng trên các hồ thủy điện. Đến nay, đã phát triển trên 40.000 m3 thể tích cá lồng với một số loài cá đặc sản như cá tầm, cá lăng, cá chiên. Đây là hướng đi mới, có triển vọng phát triển thành nghề sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao để khai thác có hiệu quả tiềm năng về mặt nước, khí hậu của tỉnh. Năm 2016, tổng sản lượng thuỷ sản đạt 2.290 tấn (tăng gần 3,5 lần so với năm 2004).

Công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng được thực hiện tốt nên số vụ vi phạm Luật bảo vệ phát triển rừng giảm rõ rệt qua các năm. Công tác khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên, trồng rừng với các loại cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao (cây gỗ lớn, lát hoa, giổi, sấu), cây lâm sản ngoài gỗ (sơn tra, mắc ca, quế) được quan tâm chỉ đạo thực hiện. Chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đem lại thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân, từ đó, người dân tập trung phát triển sản xuất, giảm tác động xấu đến tài nguyên rừng và góp phần tăng thêm diện tích rừng hàng năm. Năm 2016, tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 46,8%, tăng trên 11% so năm 2004; tổng diện tích rừng hiện có 434.069 ha, tăng gần 100.000 ha so năm 2004; số hộ được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là 68.625 hộ, bình quân thu nhập 2,12 triệu đồng/hộ/năm.

Cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được quan tâm đầu tư và cải tạo nâng cấp, cơ bản đáp ứng yêu cầu tưới tiêu, phục vụ sản xuất, đặc biệt là hệ thống thuỷ lợi và giao thông phục vụ sản xuất. Đến nay, toàn tỉnh có 920 công trình thuỷ lợi phục vụ tưới cho trên 16.300 ha lúa vụ mùa, trên 6.300 ha lúa vụ Đông xuân, 1.200 ha cây màu, trên 230 ha thủy sản, đáp ứng trên 80% diện tích gieo cấy; và có 801 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 77%.

Có thể thấy những kết quả trên là tiền đề để tỉnh Lai Châu tiếp tục khai thác những tiềm năng, thế mạnh, đẩy mạnh việc thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp vào những năm tiếp theo.

Tuy nhiên, việc thực hiện tái cơ cấu Ngành Nông nghiệp còn gặp một số khó khăn như quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, tập quán sinh hoạt và canh tác của Nhân dân còn lạc hậu; việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn nhiều hạn chế; thiếu vốn và khoa học kỹ thuật đầu tư vào sản xuất; xa các trung tâm kinh tế lớn, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn khó thu hút được các doanh nghiệp vào đầu tư phát triển và mở rộng sản xuất; kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ; tích tụ ruộng đất diễn ra chậm; liên kết trong sản xuất chưa cao; một số chính sách hỗ trợ chưa khuyến khích được nhiều người dân tham gia; tái cơ cấu diễn ra chưa đồng bộ, chỉ tập trung tại một số lĩnh vực như: trồng trọt, lâm nghiệp; công nghiệp chế biến nông sản phát triển chậm…

Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, để thực hiện tốt hơn việc tái cơ cấu Ngành Nông nghiệp, trong thời gian tới tỉnh ta tiếp tục đẩy mạnh xây dựng cánh đồng tập trung sử dụng 1-2 giống lúa thuần chất lượng cao; phát triển cây ngô với các giống cho năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh và thời tiết vùng cao để phục vụ phát triển chăn nuôi trên địa bàn và xuất khẩu; tập trung phát triển vùng nguyên liệu chè gắn với nhà máy chế biến và phân vùng nguyên liệu, thực hiện liên kết trong sản xuất và chế biến; duy trì diện tích cây cao su hiện có, tiếp tục khai thác diện tích đã đến tuổi khai thác và xây dựng các nhà máy chế biến mủ cao su trên địa bàn tỉnh; phát triển cây thuốc tại vùng có thế mạnh như cao nguyên Sìn Hồ và các xã vùng cao huyện Mường Tè; tích cực phát triển chăn nuôi đại gia súc theo hướng tập trung hàng hóa và cải tạo chất lượng giống, nâng cao tầm vóc và chất lượng thịt của vật nuôi; phát triển chăn nuôi bò sữa tại vùng có điều kiện; phát triển nuôi cá lòng hồ sử dụng giống cá đặc sản và nuôi cá nước lạnh; bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có và từng bước nâng cao chất lượng rừng và độ che phủ rừng…

Những kết quả trên của việc thực hiện Đề án tái cơ cấu Ngành Nông nghiệp tỉnh Lai Châu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã góp phần đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh. Thời gian tới, cấp ủy, chính quyền các cấp và người dân trên địa bàn tỉnh tích cực thực hiện Đề án tái cơ cấu Ngành nông nghiệp tỉnh Lai Châu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 để đưa Ngành Nông nghiệp Lai Châu ngày càng phát triển./.

Theo Gia Anh/laichau.gov.vn/04:17: 07, ngày 17/7/2017

Các tin tức khác