Từ 01/01/2015: Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành

Ngày 13/6/2014, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế (BHYT), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Luật BHYT sửa đổi, bổ sung lần này vẫn đảm bảo tính chất xã hội của chính sách BHYT theo đúng nguyên tắc Nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện với sự tham gia của người dân, để tiến tới BHYT toàn dân.

Theo đó, một số điểm mới Luật sửa đổi hướng tới mục tiêu đáp ứng yêu cầu, tạo thuận lợi và khuyến khích, đông đảo nhân dân tham gia BHYT.

Về quản lý Quỹ BHYT, kinh phí 10% dành cho Quỹ dự phòng và chi phí quản lý Quỹ BHYT, trong đó sẽ dành tối thiểu 5% để lập quỹ dự phòng quốc gia, tối đa 5% dành cho quản lý, phát triển mạng lưới BHYT, mở rộng đối tượng tham gia BHYT. Quỹ BHYT sẽ được quản lý tập trung, thống nhất ở cấp quốc gia để điều tiết chung trên toàn quốc. Quản lý Quỹ BHYT, Luật đã điều chỉnh theo hướng nếu các tỉnh, thành phố có số thu BHYT dành cho khám chữa bệnh (KCB) lớn hơn số chi KCB trong năm thì phần kinh phí chưa sử dụng hết được phân bổ theo lộ trình: Từ ngày Luật này có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2020, 20% để lại tại các địa phương để các địa phương chủ động hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật đáp ứng việc KCB BHYT ở địa bàn tỉnh; từ ngày 01/01/2021, phần kinh phí chưa sử dụng hết được hạch toán toàn bộ vào Quỹ dự phòng để điều tiết chung.

Đến ngày 01/01/2021, Quỹ BHYT sẽ được quản lý hoàn toàn tập trung, thống nhất và điều tiết chung trong phạm vi cả nước, đồng thời để tiếp tục đảm bảo công bằng, giảm chênh lệch mức tiếp cận chính sách an sinh xã hội giữa các địa bàn, các nhóm đối tượng, phần ngân sách Nhà nước dành cho y tế hàng năm phải được điều chỉnh theo hướng đầu tư tập trung cho các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển và hải đảo, nhằm tăng cường cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế, nhân lực đảm  bảo cơ hội tiếp cận bình đẳng về chăm sóc sức khỏe cho người dân ở những địa bàn này.

Về quyền lợi của người tham gia BHYT, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT được sửa đổi theo hướng nâng mức thanh toán trong trường hợp KCB trái tuyến, vượt tuyến lên 70%, 60% và 40% tương ứng với bệnh viện tuyến huyện, tỉnh, Trung ương theo lộ trình: Từ ngày 01/01/2021, mở thông tuyến tỉnh trên toàn quốc và riêng đối với tuyến Trung ương thì nâng mức hưởng lên 40% đối với trường hợp điều trị nội trú; tuyến tỉnh là 60% chi phí điều trị nội trú từ ngày Luật này có hiệu lực đến ngày 31/12/2020 và được hưởng 100% chi phí điều trị nội trú kể từ ngày 01/01/2021. Người tham gia BHYT đăng ký KCB ban đầu tại bệnh viện đa khoa huyện hoặc bệnh viện đa khoa khu vực nơi không có bệnh viện đa khoa huyện được quyền KCB BHYT tại trạm y tế xã trên cùng địa bàn huyện và không bị xem là trái tuyến, vượt tuyến.

Riêng người thuộc hộ gia đình nghèo và người dân tộc thiểu số tham gia BHYT đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; người tham gia BHYT đang sinh sống tại các xã đảo, huyện đảo được Quỹ BHYT chi trả chi phí điều trị nội trú khi tự đi KCB tại các cơ sở KCB tuyến tỉnh, tuyến Trung ương. Việc thông tuyến KCB như trên đang từng bước được cải thiện để phù hợp với nhu cầu KCB của người dân.

Trẻ em dưới 6 tuổi được Quỹ BHYT chi trả điều trị lác, cận thị và tật khúc xạ của mắt; trường hợp trẻ đủ 72 tháng tuổi mà chưa đến kỳ nhập học thì thẻ BHYT có giá trị sử dụng đến ngày 30/9 năm đó; bãi bỏ quy định BHYT không chi trả với trường hợp tự tử, tự gây thương tích, bị tai nạn giao thông, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Quỹ BHYT sẽ thanh toán 100% chi phí khi người bệnh có thời gian tham gia BHYT 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí KCB trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp đi KCB không đúng tuyến, sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao chi phí lớn, thuốc ngoài danh mục thuốc BHYT.

Quỹ BHYT nâng mức hưởng BHYT của người cận nghèo, thân nhân người có công từ mức 80% lên 95%, mức hưởng của cha mẹ, vợ, chồng, con liệt sĩ lên 100%...; các thân nhân khác của người có công với cách mạng, người thuộc hộ gia đình cận nghèo cùng chi trả 5%. Miễn chi trả cho người thuộc hộ nghèo, dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đối tượng bảo trợ xã hội để tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế huyện.

Về xử lý vi phạm, luật đã quy định chế tài xử phạt với các mức cụ thể: Người có hành vi vi phạm liên quan đến BHYT, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức không đóng, chậm đóng BHYT cho người lao động phải đóng đủ số tiền chưa đóng và nộp số tiền lãi bằng 2 lần mức lãi suất liên ngân hàng tính trên số tiền và thời gian chậm đóng, phải hoàn trả toàn bộ chi phí cho người lao động trong phạm vi quyền lợi, mức hưởng BHYT mà họ đã chi trả trong thời gian chưa có thẻ BHYT.

Về đối tượng tham gia, Luật sửa đổi, bổ sung sắp xếp lại 25 nhóm đối tượng trước đây thành 5 nhóm (Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng; nhóm do tổ chức BHXH đóng; nhóm do ngân sách Nhà nước đóng; nhóm được ngân sách Nhà nước hỗ trợ một phần mức đóng và nhóm tự đóng BHYT); bổ sung quy định lực lượng Công an và Quân đội tham gia BHYT. Để khắc phục tình trạng trùng thẻ do nhiều cơ quan cùng quản lý đối tượng, Luật đã bổ sung trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo và qui định trách nhiệm của UBND xã về việc lập danh sách đối tượng tham gia BHYT. Tối đa 12 tháng sau khi sinh, UBND xã có trách nhiệm lập danh sách đề nghị cấp thẻ BHYT cho trẻ em. Đối tượng là người Kinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được Nhà nước mua thẻ BHYT.

Người tham gia BHYT theo hộ gia đình được giảm trừ mức đóng cho các thành viên trong cùng hộ: Người thứ nhất đóng bằng mức qui định; người thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm đóng lần lượt bằng 80%, 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất, từ người thứ sáu trở đi đóng bằng cố định là 40% mức đóng của người thứ nhất.

Theo Trần Văn Luận/congthongtindientutinhtienggiang

Các tin tức khác