Nâng cao chất lượng công tác dân số ở Sìn Hồ: Đôi điều trăn trở

(BLC) – Sau hơn 2 năm thực hiện Đề án "Nâng cao chất lượng công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS – KHHGĐ) tỉnh Lai Châu giai đoạn 2016 - 2020", UBND huyện Sìn Hồ đã xây dựng kế hoạch và đề ra nhiều giải pháp triển khai thực hiện...  Tuy nhiên, kết quả chưa được như mong muốn vì tỷ lệ sinh con thứ 3 trên điạ bàn huyện vẫn còn cao, tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống vẫn diễn ra ở các xã, bản vùng cao, vùng sâu. Và, việc nâng cao chất lượng công tác DS nơi đây vẫn còn nhiều trăn trở.

Những kết quả đã đạt được

Xác định rõ công tác DS-KHHGĐ là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển của huyện, yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, UBND huyện đã triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, bộ, ngành Trung ương và của tỉnh như Nghị định số 39/NĐ-CP ngày 27/4/2015 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ cho phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách DS; Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 14/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số, giai đoạn 2015 — 2025"; Nghị quyết số 38/2016/NQ-HĐND ngày 28/7/2016 của HĐND tỉnh thông qua Đề án "Nâng cao chất lượng công tác DS-KHHGĐ tỉnh Lai Châu, giai đoạn 2016 - 2020"... Cùng với đó, huyện chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động thực hiện các biện pháp KHHGĐ đến từng người dân nhằm giảm sinh, ổn định DS, xây dựng mô hình gia đình ít con, ấm no, tiến bộ và hạnh phúc. Lồng ghép tuyên truyền giáo dục về DS-KHHGĐ với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Đưa những nội dung chính sách DS-KHHGĐ vào hương ước, quy ước của bản, khu phố; lồng ghép việc thực hiện các chính sách về DS-KHHGĐ vào cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; xây dựng gia đình văn hóa, bản, cơ quan, đơn vị văn hoá. Các cấp ủy Đảng, chính quyền, tổ chức, đoàn thể huyện xem đây là một nhiệm vụ quan trọng và là tiêu chí để bình xét thi đua hàng năm.

Do sinh nhiều con nên cuộc sống của gia đình anh Liều A Mình và chị Vàng Thị Cha gặp nhiều khó khăn.

Công tác kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác DS – KHHGĐ từ huyện đến cơ sở cũng được huyện quan tâm, chỉ đạo. Đến nay, 22/22 xã, thị trấn có cán bộ chuyên trách DS xã, 224/233 bản có y tá bản làm công tác DS. Trong năm 2016 – 2017, các ngành chức năng đã phối hợp với các xã, thị trấn tổ chức 252 buổi tuyên truyền về công tác DS với hàng nghìn lượt nghe. Mở 2 lớp tập huấn cho đội ngũ y tế khu, bản về kiến thức DS cơ bản với 116 học viên tham gia; cử 1 bác sỹ, 1 nữ hộ sinh thuộc Trung tâm Y tế huyện tham gia tập huấn về kỹ năng, kỹ thuật sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh tại tỉnh. Kiện toàn mạng lưới cung cấp dịch vụ KHHGĐ tại các tuyến được đảm bảo. Công tác xã hội hóa phương tiện tránh thai trên địa bàn toàn huyện cũng được triển khai tại 3 xã: Pa Tần, Nậm Mạ, Chăn Nưa. Tiếp tục duy trì mô hình giảm tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thông tại 5 xã: Ma Quai, Lùng Thàng, Nậm Tăm, Sà Dề Phìn, Tả Phìn đã đem lại hiệu quả rõ rệt trong giảm tỷ lệ tảo hôn. Đến thời điểm này, có 81 ca được sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh; chưa ghi nhận có cặp vợ chồng kết hôn cận huyết thống tại các xã trên... Góp phần cải thiện đáng kể đời sống, nâng cao sức khỏe cho Nhân dân nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Còn nhiều khó khăn, thách thức

Mặc dù đã đạt những kết quả quan trọng song so với các địa phương trong tỉnh, công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn huyện vẫn còn một số hạn chế, khó khăn như mức sinh giảm chậm và tiềm ẩn nguy cơ tăng DS trở lại. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm nhưng chưa bền vững. Theo thống kê, trong 2 năm 2016 - 2017, toàn huyện có 452 trường hợp vi phạm chính sách DS sinh con thứ 3; 441 trường hợp vi phạm tảo hôn. Riêng năm 2016 phát hiện 3 cặp kết hôn cận huyết thống (1 cặp tại xã Làng Mô; 2 cặp tại xã Phìn Hồ). Có 9 cán bộ, đảng viên vi phạm chính sách DS (sinh con thứ 3 trở lên) đã xử lý theo quy định của điều lệ Đảng và quy định của nhà nước.

Chúng tôi đến thăm gia đình anh Liều A Mình và chị Vàng Thị Cha ở bản Suối Sù Tổng, xã Tả Phìn – một trong những hộ điển hình sinh nhiều con. Ngôi nhà của vợ chồng anh không khác gì túp lều, mái lợp bằng cỏ gianh, tường nhà là những tấm phên nứa ghép lại. Trong nhà chẳng có tài sản gì đáng giá. Mặc dù mới hơn 30 tuổi nhưng vợ chồng anh đã có 5 người con. Đứa lớn nhất 8 tuổi, đứa bé nhất chưa đầy 1 tuổi. Đất sản xuất ít, kinh tế khó khăn, nhà năm nào gia đình anh cũng thiếu ăn 1 - 3 tháng. Do không có việc làm thêm nên vào những lúc nông nhàn anh chỉ biết quanh quẩn ở nhà giúp vợ chăm con. Khi được hỏi tại sao đẻ nhiều con, anh Mình nói, vợ chồng tôi sinh con một bề là gái. Phong tục người Mông là không ở rể nên cần có con trai “nối dõi tông đường”. Do đó chúng tôi đã sinh đến đứa thứ 4 thì được cậu con trai, còn đứa thứ 5 thì bị lỡ kế hoạch…

Nguyên nhân của tình trạng trên chủ yếu vẫn là tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”, có con trai để “nối dõi tông đường” vẫn còn khá nặng nề ở nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số trong huyện. Cùng với đó, nhiều hộ muốn có thêm con cho “vui cửa, vui nhà”. Việc thực hiện chính sách DS-KHHGĐ, nhất là ở cấp cơ sở có nơi còn buông lỏng, thiếu kiểm tra, giám sát; công tác truyền thông giáo dục sức khỏe và nhận thức của người dân về tác hại lâu dài của việc sinh nhiều con còn nhiều hạn chế. Đội ngũ cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ DS-KHHGĐ cấp xã, bản, khu phố không ổn định (vẫn còn 9 bản chưa có cán bộ làm công tác DS). Chế tài xử lý về vi phạm chính sách DS chưa đủ mạnh, chỉ mang tính chất nhắc nhở, vận động nên việc xử lý vi phạm chính sách DS dù đã được người dân biểu quyết đưa vào quy ước, hương ước của bản, song nhiều cặp vợ chồng vẫn chưa thực hiện nghiêm túc.

Nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng công tác DS, trong thời gian tới, huyện Sìn Hồ tiếp tục chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể, các địa phương, đội ngũ cộng tác viên DS ở cơ sở tăng cường công tác tuyên truyền, vận động truyền thông DS, chăm sóc sức khỏe sinh sản - KHHGĐ cho những đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ; giảm tỷ lệ sinh con thứ 3; đảm bảo tốt công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người dân. Tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình bản, khu không sinh con thứ 3 đến nhiều địa phương trong toàn huyện… Từ đó, từng bước ổn định, nâng cao chất lượng DS tại địa phương.

Tỷ lệ tăng DS tự nhiên trên địa bàn huyện năm 2016 là 18,4%o đến năm 2017 là 17%o. Mức giảm tỷ lệ sinh năm 2016 là 0,8%o đến năm 2017 là 0,5%o. Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên năm 2016 giảm 3% so với năm 2015 và năm 2017 giảm 1,5% so với năm 2016. Năm 2016, tỷ lệ bà mẹ mang thai được sàng lọc trước sinh là 0%; năm 2017 là 1%. Tỷ lệ trẻ sơ sinh được sàng lọc năm 2016 là 0% đến năm 2017 là 3,7%. Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại năm 2017 tăng 2,1% so với năm 2016.

Bình Minh

Các tin tức khác