-
(BLC) - Với sự chỉ đạo quyết liệt và thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường thuộc 75 xã đặc biệt khó khăn, đến nay, so với mục tiêu đề ra đầu năm học 2015 – 2016, các chỉ số về chất lượng đều đạt và vượt, chất lượng giáo dục vùng đặc biệt khó khăn của các cấp học có sự chuyển biến tích cực, xấp xỉ với mặt bằng chung toàn tỉnh, khoảng cách chênh lệch về chất lượng với vùng thuận lợi giảm mạnh.
(1).jpg)
Ngoài giờ học, học sinh trường PTDTBT Tiểu học số 1 Bản Lang cùng nhau tìm hiểu cách giải những bài tập nâng cao.
Chúng tôi vừa có dịp đến xã Bản Lang, một trong các xã đặc biệt khó khăn của huyện Phong Thổ, xã có 5 dân tộc anh em cùng sinh sống, đời sống của người dân những năm gần đây được cải thiện đáng kể, tuy nhiên so với mặt bằng chung thì vẫn còn nhiều khó khăn. Toàn xã có 3 cấp học với 6 trường: Mầm non, tiểu học và trung học cơ sở. Để nâng cao chất lượng giáo dục, những năm qua các nhà trường đã nỗ lực vào cuộc với nhiều giải pháp thiết thực. Thầy giáo Nguyễn Tuấn Anh – Hiệu Trưởng Trường PTDTBT Tiểu học số 1 Bản Lang cho biết: Năm học 2017 – 2018 nhà trường có 27 lớp, 577 học sinh (tăng 27 học sinh so với năm học 2016-2017). 100% các em là người dân tộc thiểu số, nhiều em ở bản xa, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, nhất là vào thời điểm mùa vụ, các em phải giúp gia đình; việc sử dụng tiếng phổ thông của các em còn nhiều hạn chế…ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục. Vì vậy bên cạnh khuyến khích giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá học sinh đa chiều theo quy định mới, hàng năm nhà trường tổ chức cho 100% cán bộ quản lý, giáo viên được tham gia các lớp bồi dưỡng do cấp trên tổ chức. Cán bộ, giáo viên nỗ lực tự học nâng cao trình độ. Thường xuyên thực hiện dự giờ, tổ chức các chuyên đề, thảo luận, rút kinh nghiệm. Đội ngũ giáo viên nhất là giáo viên chủ nhiệm thường xuyên gần gũi, động viên, giúp các em sử dụng tiếng Việt tốt hơn. Ngoài giờ lên lớp, tổ chức hướng dẫn các em học và làm bài tập; xây dựng các mô hình đôi bạn giúp nhau học tập; đôi bạn cùng tiến. Lồng ghép, sử dụng hiệu quả các chế độ, chính sách để các em đảm bảo dinh dưỡng trong từng bữa ăn, đảm bảo sức khỏe. Duy trì việc vệ sinh phòng ở, vệ sinh cá nhân, phòng chống bệnh học đường, phòng chống tai nạn thương tích; tổ chức cho các em trồng rau, trồng hoa, nuôi lợn gà… để rèn kỹ năng sống. Nhờ đó, kết thúc học kỳ I năm học 2017-2018, tỷ lệ chuyên cần của nhà trường đạt 99%; chất lượng các mặt giáo dục đều tăng 4-6% so với cùng kỳ năm học 2015 – 2016. Không có học sinh bỏ học giữa chừng…
Tìm hiểu chúng tôi được biết, theo khảo sát của ngành giáo dục, năm học 2014 – 2015, tại các xã đặc biệt khó khăn, chất lượng giáo dục Tiểu học, THCS và chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ thấp, còn khoảng cách lớn so với mặt bằng chung toàn tỉnh; Tỷ lệ chuyên cần cấp THCS thấp tại các thời điểm mùa vụ, mùa đông, lễ tết và các xã biên giới; Tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ ra lớp thấp, tỉ lệ học sinh bỏ học cấp THCS còn cao, cá biệt một số vùng có nguy cơ tăng. Nhiều giáo viên còn yếu cả về kiến thức chuyên môn và phương pháp giảng dạy, dạy học sinh không hiểu bài, bài giảng của giáo viên chưa lôi cuốn học sinh. Nội dung dạy học, phân phối chương trình, khung nội dung ôn tập của đơn vị chưa thực sự phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh, chưa thể hiện rõ kiến thức, kĩ năng cơ bản, trọng tâm mà học sinh cần đạt. Hình thức kiểm tra đánh giá chậm thay đổi, quy trình thực hiện chưa bám sát các kĩ thuật biên soạn đề kiểm tra đánh giá học sinh.
Do vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục vùng ĐBKK, từ năm học 2015 - 2016 toàn ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh đã thực hiện quyết liệt và đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó khăn, trong đó tập trung đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục; tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho hiệu trưởng trong công tác nâng cao chất lượng giáo dục. Thực hiện đổi mới chương trình, nội dung giáo dục các cấp học; đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá từ nội dung đến hình thức tổ chức, đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực, phẩm chất người học. Tăng quyền tự chủ, chịu trách nhiệm về nội dung giảng dạy, chất lượng giảng dạy, kế hoạch giảng dạy tới từng giáo viên... Quyết tâm đạt mục tiêu giảm sự chênh lệch khoảng cách với chất lượng giáo dục các xã vùng II.
Theo đó, các đơn vị giáo dục tích cực tham mưu cấp ủy, chính quyền kiện toàn Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục cấp xã, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên, trong đó thể hiện rõ nhiệm vụ, trách nhiệm phụ trách bản về huy động học sinh ra lớp và nâng cao tỉ lệ chuyên cần gắn với việc đánh giá xếp loại cán bộ, công chức, viên chức cuối năm. Xây dựng lại phân phối chương trình, khung nội dung ôn tập theo định hướng dạy học theo chủ đề, ưu tiên tăng thời lượng thực hành giúp học sinh rèn kĩ năng làm bài, trình bày ý tưởng, thể hiện quan điểm, nhận thức của bản thân hướng tới phát triển năng lực người học một cách hiệu quả nhất.
Các tổ tư vấn được phòng GD&ĐT các huyện thành lập tích cực hỗ trợ các đơn vị trường về xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học; xây dựng các quy định - quy chế trong nhà trường; tổ chức dạy học theo đối tượng vùng miền đáp ứng mục tiêu giáo dục; tổ chức các hoạt động bán trú; huy động học sinh ra lớp và nâng cao tỷ lệ chuyên cần. Nhân rộng mô hình trường dạy học 2 buổi/ngày. Chú trọng quy trình thiết kế một bài giảng trước khi lên lớp và thực hành giảng dạy trên lớp. Trong quá trình thiết kế bài giảng đã từng bước linh hoạt, hiệu quả hơn cho phù hợp với từng tiết học, môn học. Tăng cường thảo luận tổ nhóm chuyên môn theo hướng “nghiên cứu bài học”.
Các trường mầm non, bổ sung, hoàn thiện kế hoạch năm học và kế hoạch chuyên môn. Gắn thi đua khen thưởng với yêu cầu giáo viên phát âm đúng và tiếp tục thực hiện chuyên đề “Khắc phục lỗi phát âm tiếng Việt. Tiếp tục đổi mới nội dung sinh hoạt chuyên môn, trao đổi thảo luận nội dung, kiến thức, phương pháp dạy trẻ theo đối tượng và tổ chức các tiết dạy chuyên đề cho giáo viên tham khảo, bồi dưỡng năng lực xây dựng thực hiện kế hoạch giáo dục phù hợp với trẻ. Duy trì biện pháp ôn tập cho giáo viên chưa đạt yêu cầu. Tiếp tục phối hợp tốt giữa gia đình với nhà trường chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng và thực hiện chuyên đề giáo dục phát triển vận động. Chú trọng tổ chức các hoạt động vui chơi, trải nghiệm, khám phá và hoạt động tập thể để rèn tính tích cực, mạnh dạn, tự tin cho trẻ. Năm học 2017 – 2018, 100% các trường Mầm non thực hiện hiệu quả Chương trình Giáo dục Mầm non sửa đổi theo Thông tư 28/2016 của Bộ GD&ĐT.
Ở giáo dục tiểu học, mô hình trường học mới bước đầu có những điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tiễn tại đơn vị; tập trung nâng cao chất lượng học sinh chưa hoàn thành chương trình lớp học. Phối hợp với cấp ủy chính quyền địa phương thực hiện việc huy động học sinh ra lớp. Sắp xếp lớp học phù hợp theo năng lực học tập của học sinh và đặc điểm của nhà trường, giao chỉ tiêu chất lượng cần đạt cụ thể từng tháng cho mỗi lớp học, tăng cường rèn luyện các kỹ năng: trả lời, âm lượng khi phát âm... và ý thức tự giác học tập, giữ gìn đồ dùng học tập. Tổ chức các hoạt động giao lưu cho học sinh để nâng cao các phong trào thi đua. Tăng cường công tác kiểm tra, giúp đỡ giáo viên đảm bảo hiệu quả, phê duyệt nội dung bài học và thực hành giảng dạy trên lớp của giáo viên...
Cấp THCS ban hành khung ôn tập lớp 9, chương trình giáo dục riêng cho vùng ĐBKK, đổi mới hoạt động tổ chức dạy học theo chủ đề phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh tạo môi trường học tập thân thiện giúp học sinh yếu tự tin tham gia học tập. Chú trọng nâng cao chất lượng các môn Toán, Văn, Sử, Tiếng Anh đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ. Biên chế lại thời gian năm học đối với lớp 9, ưu tiên việc đảm bảo thời gian cần thiết cho ôn tập, thi học kì I, học kì II và cuối năm. Nghiên cứu chuyển đổi hình thức dạy học từ 1 buổi/ngày sang 2 buổi/ngày. Xây dựng lại các quy định - quy chế thực hiện nhiệm vụ chuyên môn; thi đua khen thưởng kỉ luật; tổ chức các hoạt động trong nhà trường; các quy định về tổ chức các hoạt động bán trú theo hướng thiết thực, hiệu quả, đảm bảo. Tăng cường tổ chức các hoạt động sinh hoạt bán trú phù hợp và khoa học và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh.
Theo đánh giá của Nhà giáo ưu tú Hoàng Đức Minh – Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thì nhờ thực hiện đồng bộ các giải pháp đến nay, chất lượng giáo dục của các cấp học tại 75 xã ĐBKK có sự chuyển biến tích cực. So với mục tiêu đề ra đầu năm học 2015 – 2016, các chỉ số về chất lượng đều đạt và vượt, khoảng cách chênh lệch về chất lượng với vùng thuận lợi giảm mạnh. Nhận thức của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục về nâng cao chất lượng giáo dục vùng ĐBKK được nâng lên, bước đầu hình thành các quan điểm: giáo dục hướng tới kết quả đầu ra, lấy trẻ, người học làm trung tâm, dạy học phát huy năng lực người học... Công tác quản lý và chỉ đạo của đơn vị dần đi vào chiều sâu trên cở sở áp dụng hài hòa giữa khoa học quản lý và thực tiễn. Lãnh đạo các đơn vị giáo dục đã ý thức rõ tầm quan trọng của công tác tham mưu và nhất là công tác lập kế hoạch trong việc tổ chức các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và tổ chức nuôi dưỡng học sinh bán trú. Đặc biệt là, các chỉ tiêu đề ra về nâng cao chất lượng giáo dục vùng ĐBKK đã hoàn thành xuất sắc. Giáo dục Mầm non 4/4 chỉ tiêu đạt và vượt; giáo dục tiểu học 10/11 chỉ tiêu đạt và vượt; giáo dục THCS 11/11 chỉ tiêu đạt và vượt. Từng bước giảm sự chênh lệch khoảng cách với các xã vùng II, tạo tiền đề quan trọng thực hiện thắng lợi đề án “Nâng cao chất lượng giáo dục vùng ĐBKK giai đoạn 2016-2020”.
So với năm học 2014 – 2015, năm học này, Giáo dục Mầm non: Huy động trẻ từ 0 - 5 tuổi ra lớp đạt 60%, tăng 4%; Huy động trẻ dưới 3 tuổi (nhà trẻ) ra lớp 13,2%, vượt 4,7%; Huy động trẻ từ 3 - 5 tuổi (mẫu giáo) ra lớp 98%, tăng 0,2%; Trẻ ăn bán trú nhà trẻ 86% ,vượt 1%; mẫu giáo 99,8%, vượt 0,8%. Giáo dục Tiểu học: Tỷ lệ học sinh khối lớp 3 về trung tâm học đạt 48,4%, vượt 5,1%; học sinh khối lớp 4 về trung tâm học đạt 67,9%, vượt 2,1%; Huy động học sinh trong độ tuổi đến trường 98,8%, vượt 0,6%; trẻ 6 tuổi vào vào lớp 1 đạt 99,8%, vượt 0,2%. Chuyên cần đạt 98,1%, vượt 3,1%; học sinh bỏ học chiếm 0,1%; Tỷ lệ học sinh học 2 buổi/ngày đạt 62,9%, vượt 7,9%; xếp loại Hoàn thành các môn học và hoạt động giáo dục 98,8%, vượt 3,2%; xếp loại Đạt mức độ hình thành và phát triển năng lực 99,1%, vượt 3,5%; xếp loại Đạt mức độ hình thành và phát triển phẩm chất 99,5%, vượt 3,0%; Học sinh hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học 99,2% vượt 3,7%; Học sinh lớp 3 học ngoại ngữ theo chương trình mới 23,9%, vượt 5,9%. Giáo dục Trung học cơ sở: Tỷ lệ HS trong độ tuổi ra lớp 93,5%, tăng 2,6%, vượt 6,5%; HS hoàn thành chương trình giáo dục Tiểu học vào lớp 6 đạt 97,7% vượt 2,7%; Chuyên cần 89,8 %, so với năm học 2014 – 2015 tăng 2,6%, vượt 5,8%; bỏ học 0,8%, giảm 1,0%; HS xếp loại hạnh kiểm từ TB trở lên 99,8%, vượt 3,8%; xếp loại học lực từ TB trở lên 92,4%, tăng 2,9%, vượt 4,9%; Tỷ lệ chuyển lớp đạt 99%, vượt 6%; học sinh tốt nghiệp THCS 99,8%, vượt 2,8%.
Đồng chí Tống Thanh Hải kiểm tra công tác thi tuyển sinh lớp 10
Hơn 3.000 thí sinh tham gia kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 – 2027
Hội thảo khoa học “Thanh niên với phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết” năm 2026
Trao giải Cuộc thi “Vẽ tranh theo sách” lần thứ VIII năm 2026
Chung tay đẩy lùi tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống từ trường học
Tiếp sức học sinh vùng cao ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông
Điện lực Đoàn Kết trao tặng 100 ấn phẩm sách tranh “Bí mật quả cầu tím”
Lai Châu dồn lực cho Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 và tốt nghiệp THPT năm 2026