-
Từ những gốc chè cổ thụ mọc hoang, những ngọn đồi khum khum bát úp chỉ toàn cỏ tranh, cây bụi, dưới bàn tay tạo tác chai sần nắng gió của người Tân Uyên đã làm nên một vùng bạt ngàn chè xanh. Tuy có lúc đắng, lúc ngọt, nhưng từ khi bám rễ, cây chè đã mang đến cho người trồng ở đây những ước mơ, khát vọng mới vươn lên. Và hôm nay, những giấc mơ năm nào đã thành hiện thực.
Sau khi giải phóng Điện Biên, đầu năm 1959, Trung đoàn 81 - Nông trường quân đội Than Uyên được thành lập với mục đích là tiễu phỉ trừ gian, giúp Nhân dân các dân tộc trong khu vực phát triển kinh tế. Vừa tiễu phỉ, các cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn vừa tổ chức sản xuất quy mô để “tiễu giặc đói” và xây dựng mô hình kinh tế để bà con làm theo. Buông cây súng, những người bộ đội lại chắc tay cuốc, tay cày trồng sắn, khoai lang, nuôi lợn… Sau Lễ Hạ sao (22/12/1960), cán bộ chiến sỹ của Trung đoàn chính thức trở thành công nhân của Nông trường.

Người dân Đội 5 (thị trấn Tân Uyên) thu hái chè.
Thời gian đầu ngoài trồng cây lương thực thì với tầm nhìn xa, cây cà phê cũng được đưa vào trồng. Tuy nhiên, do khí hậu không phù hợp, cây cà phê đã từ giã đất này cùng với ánh mắt hy vọng của bao người. Nhận thấy trên những dãy núi có giống chè cổ, nhận định rằng chè là cây bản địa nên lãnh đạo Nông trường quyết định đưa cây chè vào trồng thử nghiệm với 16ha. Vốn là giống cây bản địa, cây chè không phụ công người chăm sóc, những mầm chè cứ đội nắng, đội gió vươn lên mơn mởn trong sự vui mừng của không chỉ những người công nhân nông trường mà còn của những người dân trong vùng. Từ những gốc chè hoang hoải trên rừng, những đồi chè ra đời mang đến cho nông trường nguồn thu đáng kể. Giá trị, hiệu quả của cây chè dần được khẳng định, từ chỗ chỉ là cây trồng đặc hữu của Nông trường, người dân trong vùng đã tự học theo mà nhân rộng diện tích và chính thức đến năm 1995 cây chè đã nhập khẩu thành công vào gia đình cây trồng của huyện. Nhìn thấy tương lai và hiệu quả thực tế của cây chè, nhiều hộ dân trong vùng chủ động tìm kiếm giống cây, nhường đất nông nghiệp để đưa cây chè vào những mảnh vườn, nương, đồi của mình. Nhận thấy giá trị của cây chè, chỉ một thời gian ngắn sau khi thành lập huyện Tân Uyên, Ban Chấp Đảng bộ huyện đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/HU, ngày 10/12/2015 về sản xuất nông sản hàng hóa với nhiều chỉ đạo, giải pháp quyết liệt để phát triển nông nghiệp nói chung và phát triển cây chè nói riêng. Thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, UBND huyện, các xã cụ thể hóa bằng các chương trình, kế hoạch, dự án, đợt cao điểm đưa cây chè vươn xa hơn nữa trên khắp các triền đồi. Cây chè trở thành cây trồng chủ lực ở đất này.
Đến nay, ngoài diện tích chè của Nông trường năm nào, huyện Tân Uyên đã có hơn 3.000ha chè; trong đó chè kinh doanh hơn 2.000ha và mỗi năm cho thu 17.000 tấn chè mang về cho người dân trên 127 tỷ đồng.
Gặp anh Lâm Ngọc Hà (ở Khu 3, thị trấn Tân Uyên) - một người từ khi sinh ra, lớn lên, lập nghiệp, thành tài đều gắn bó với cây chè. Bên chén trà vàng sánh, anh Hà dốc lòng về cuộc đời và sự gắn bó đến kỳ lạ với cây chè của Tân Uyên. Sinh ra trong gia đình thuần nông, từ khi còn trong bụng mẹ (năm 1977) anh đã được lên nương, lên đồi chè, rồi khi sinh ra, lẫm chẫm biết đi, và dần dần lớn lên cũng bên những nương chè, đồi chè xanh ngát. “Chắc cái hương, cái vị của chè nó ngấm vào máu, vào thịt của mình rồi nên lớn lên mình chẳng thể xa nó được. Nó là một phần của mình trong quá khứ, ngay ở hiện tại và sẽ là cả tương lai nữa…” Anh bỏ lửng câu nói khi nhấp chén trà mà nhìn ra những đồi trè xanh xa vút tầm mắt. Đến lúc này, nhìn cái cách anh nâng niu chén trà, nhìn cách anh pha trà thưởng trà, xem hệ thống máy móc anh có để làm chè và nhìn cơ ngơi anh có được từ trà, có thể nói cây chè đã mang đến cho người dân nơi đây những giấc mơ thành sự thật (doanh thu của HTX Hà Tâm do anh Hà làm chủ nhiệm mỗi năm lên đến vài tỷ đồng và ở huyện Tân Uyên những người như anh Hà chưa bao giờ là ít).
Người dân có thể sống tốt nhờ cây chè, đó là nhận định của rất nhiều người dân trồng chè, chế biến, kinh doanh chè ở Tân Uyên. Ông Ngọ Doãn Bình - Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện cho biết: mỗi năm cây chè đóng góp trên 10% doanh thu toàn huyện, và nhờ cây chè hiện nay huyện Tân Uyên đã giảm được tỷ lệ đói, nghèo xuống còn 9,37%. Thị trấn Tân Uyên là nơi được coi là thủ phủ của cây chè với gần 851ha chè (toàn huyện hơn 3.000ha). Cây chè đã góp phần rất lớn trong việc xóa đói giảm nghèo đưa tỷ lệ hộ nghèo của thị trấn giảm xuống còn 9,74% (năm 2015 là 34,4%). Cũng nhờ cây chè, thu nhập bình quân đầu người đạt 35,5 triệu đồng mỗi năm. Cũng giống như thị trấn Tân Uyên, những năm gần đây, xã Phúc Khoa nổi lên như một vùng trọng điểm chè của huyện với hơn 400ha. Và cũng nhờ cây chè mà hiện nay ở xã có tới hơn 100 hộ có thu nhập từ 80 - 120 triệu đồng mỗi năm. Và còn nhiều địa phương khác, nhiều hộ dân khác nếu không phải đổi đời thì cũng vươn lên mạnh mẽ nhờ những búp chè mơn mởn đón nắng mai.
Sự ngọt ngào từ loài cây có vị chát đắng hoang hoải ngày nào đã được khẳng định. “Mỏ vàng xanh” đã được khai lộ, sắp tới sẽ là thời điểm mà huyện Tân Uyên tập trung chỉ đạo đi sâu vào chất lượng ngành chè. Sẽ có thêm nhiều diện tích chè đạt tiêu chuẩn VietGAP, nhiều diện tích sản xuất chè ô long và dây chuyền, nhà máy hiện đại cùng những tiến bộ của khoa học được ứng dụng, đưa vào sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm chè. Hương chè sẽ bay xa, vị chè sẽ thêm ngọt và bữa cơm sẽ đủ đầy là điều mà giống cây hoang năm nào trả ơn người hạ sơn, thuần hóa.
Khuyến cáo sử dụng điện tiết kiệm để tránh hóa đơn tăng cao
Lễ ra quân hưởng ứng phong trào "Toàn dân chung tay bảo vệ môi trường vì một Việt Nam xanh - sạch - đẹp"
Gặp mặt học viên hoàn thành nhiệm vụ thực tập
Lễ dâng hương lấy mẫu giám định ADN liệt sỹ tại Nghĩa trang Liệt sỹ Than Uyên
Than Uyên tiếp nhận 229 đơn vị máu
Tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Văn phòng cấp ủy năm 2026
Lan tỏa tình hữu nghị
Chăm lo, phát huy vai trò của những “bóng cả”